QUỐC KÌ VIỆT NAM

Tài nguyên dạy học

Intel Teach Elements

Ảnh ngẫu nhiên

Be_khang1.flv Be_khang.flv SugarSync__Computer_Setup__YouTube.flv YouTube_2.flv Huong_dan_Diigo__bookmarks__YouTube.flv YouTube.flv Image1035.jpg Image1033.jpg Image965.jpg Image10831.jpg Image1103.jpg Image1096.jpg Image1018.jpg Image958.jpg Image956.jpg Image919.jpg Image911.jpg Image905.jpg Image890.jpg Image8641.jpg

Bách khoa toàn thư

Từ điển Online

Tra từ điển

Tra theo từ điển:



Tìm kiếm Google

Google

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Lê Thanh Long)

Liên hệ

Quản trị: Lê Thanh Long
01656604289
( )

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Chào mừng quý vị đến với website dạy học theo dự án môn Địa lý

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái. mainbanner_500_500

    Phương pháp học theo dự án (PBL)

    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Nguyễn Văn Sang
    Người gửi: Lê Thanh Long (trang riêng)
    Ngày gửi: 13h:55' 19-03-2012
    Dung lượng: 1.7 MB
    Số lượt tải: 121
    Số lượt thích: 0 người
    CHUYÊN ĐỀ
    PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
    THEO DỰ ÁN - PBL
    ( PROJECT BASED LEARNING )
    Biên sọan và thực hiện : NGUYỄN VĂN SANG – Hiệu trưởng Trường THCS Hòa Phú
    I. Thực trạng về PPDH hiện nay

    Về cơ bản PPDH truyền thống vẫn là phương pháp phổ biến hiện nay trong nhà trường phổ thông.
    Theo phương pháp này nguồn cung cấp kiến thức chủ yếu cho HS là sách giáo khoa và giáo viên
    a. Tốc độ phát triển của khoa học và công nghệ luôn luôn vượt xa tốc độ cập nhật kiến thức của sách giáo khoa: cho dù sách giáo khoa được đổi mới hàng năm đi nữa thì việc cập nhật kiến thức vẫn chỉ dừng ở mức độ tương đối.
    II. Những hạn chế của PPDH truyền thống:
    b. Theo PPDH truyền thống thì người thầy đóng vai trò trung tâm trong quá trình dạy học: Thầy “truyền đạt’’ kiến thức từ sách giáo khoa đến HS . Trong điều kiện tối ưu, HS tiếp thu 100% những gì được truyền đạt. PPDH truyền thống không tạo điều kiện cho HS đi xa hơn kiến thức trong SGK.
    Nói cách khác, “ chuẩn kiến thức là điểm đến cuối cùng ’’.
    II. Những hạn chế của PPDH truyền thống:
    c.Trong PPDH truyền thống, không có chỗ cho một môi trường cộng tác, trong đó từng thành viên đảm nhận một vai trò, một công việc cụ thể hướng đến một mục tiêu chung. Trong thực tế cuộc sống, kỹ năng làm việc trong một môi trường như vậy là điều thiết yếu để tồn tại.
    II. Những hạn chế của PPDH truyền thống:
    d.Vì chương trình chậm đổi mới và thiếu tính cập nhật, sự phát triển và niềm hứng thú của GV trong lãnh vực chuyên môn ngày càng giảm sút chứ không tăng lên. Việc học hỏi, trau giồi kiến thức mang tính tự phát hơn là một đòi hỏi khách quan và thiết yếu của nghề nghiệp.
    II. Những hạn chế của PPDH truyền thống:
    e.Về phía HS, mối quan tâm hàng đầu là tích lũy kiến thức để vượt qua các kỳ thi chứ không phải là việc áp dụng những gì đã học vào cuộc sống thật mà họ phải đối mặt sau khi rời trường.
    Nghĩa là :
    Trực quan sinh động
    Tư duy trừu tượng

    Chưa được hiểu đúng nghĩa

    Hiện thực khách quan
    II. Những hạn chế của PPDH truyền thống:
    Phương pháp truyền thống:
    Giáo viên là trung tâm
    Dạy học dựa trên dự án:
    Học sinh là trung tâm
    III. Phương pháp học theo dự án (PBL)
    Phương pháp học theo dự án (PBL)
    là một hướng tích cực để khắc phục
    những hạn chế của PPDH truyền thống
    và phương pháp học theo dự án này
    giúp cho học sinh thực hiện các
    ý tưởng áp dụng vào thực tế

    Phương pháp học theo dự án (PBL)
    là một hướng tích cực để khắc phục
    những hạn chế của PPDH truyền thống
    và phương pháp học theo dự án này
    giúp cho học sinh thực hiện các
    ý tưởng áp dụng vào thực tế
    Dạy học dự án là một phương pháp, một hình thức dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học hướng vào người học, quan điểm dạy học hướng vào hoạt động và quan điểm dạy học tích hợp.
    Phương pháp dạy học dự án được chú ý đặc biệt trong nền giáo dục của nhiều nước trên thế giới trong thời gian gần đây. Có thể kể đến một số quốc gia có nền giáo dục tiên tiến như: Mỹ, Đức, Đan Mạch… đều có nhiều công trình có giá trị về lý luận cũng như thực tiễn đối với phương pháp này.
    III. Phương pháp học theo dự án (PBL)
    Thuật ngữ dự án (project) được hiểu là một đề án, dự thảo hay kế hoạch cần thực hiện để đạt mục đích đặt ra. Khái niệm dự án được sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa học cũng như trong quản lý xã hội và được sử dụng trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo như một phương pháp hay hình thức dạy học.
    III. Phương pháp học theo dự án (PBL)
    Từ đầu thế kỉ 20, các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp dự án (Project method) và coi đây là phương pháp dạy học quan trọng để thực hiện dạy học hướng vào người học nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống.
    Ban đầu nó chỉ được áp dụng khi giảng dạy môn kĩ thuật ở các trường đại học và cao đẳng. Dần dần, nó được sử dụng rộng rãi trong các môn học khác ở trường phổ thông và trở nên phổ biến, nhất là các nước phát triển.
    Tóm lại, dạy học dự án hay phương pháp dạy học dự án được hiểu là một phương pháp hay hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, thực hành. Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện.
    III. Phương pháp học theo dự án (PBL)
    A. ĐẶC ĐIỂM CỦA DẠY HỌC DỰ ÁN

    1. Định hướng vào học sinh
    - Chú ý đến hứng thú của người học, tính tự lực cao: học sinh được trực tiếp tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp khả năng và hứng thú của cá nhân, khuyến khích tính tích cực, tự lực, tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học. Giáo viên đóng vai trò là người tư vấn, hướng dẫn và giúp đỡ.
    - Người học được cộng tác làm việc, lựa chọn nhiệm vụ phù hợp: Các dự án được thực hiện theo nhóm, có sự cộng tác và phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm, rèn luyện tính sẵn sàng và kĩ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa giáo viên và học sinh cũng như các lực lượng xã hội tham gia vào dự án.
    2. Định hướng vào thực tiễn
    - Gắn liền với hoàn cảnh: Chủ đề dự án xuất phát từ tình huống của thực tiễn nghề nghiệp, đời sống xã hội, phù hợp trình độ người học.
    - Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống xã hội, địa phương, gắn với môi trường, mang lại tác động xã hội tích cực.
    - Kết hợp giữa lý thuyết và thực hành: Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học.
    - Dự án mang nội dung tích hợp: Kết hợp tri thức của nhiều môn học hay lĩnh vực khác nhau để giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp.
    A. ĐẶC ĐIỂM CỦA DẠY HỌC DỰ ÁN

    3. Định hướng vào sản phẩm
    Các sản phẩm được tạo ra, không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết, mà còn tạo ra sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành. Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu.
    A. ĐẶC ĐIỂM CỦA DẠY HỌC DỰ ÁN

    Khái quát về PBL
    PBL là một phương pháp dạy học hướng học sinh đến việc tiếp thu kiến thức và kỹ năng thông qua quá trình giải quyết một bài tập tình huống, được gọi là một dự án ( project) mô phỏng môi trường mà các em đang sống và sinh hoạt.
    Khái quát về PBL
    Project này có thể chỉ giới hạn trong phạm vi lớp học và có độ dài khoảng 1-2 tuần, hoặc có thể vượt ra ngoài phạm vi lớp học và kéo dài trong suốt khóa học/ năm học.
    Các hoạt động trong lớp học ứng dụng công nghệ thông tin
    Dạy học dựa trên dự án yêu cầu phối hợp rất nhiều phương pháp đặc biệt là phương pháp sử dụng công nghệ thông tin và làm việc theo nhóm
    Khái quát về PBL
    Trong cách học theo dự án, học sinh làm việc theo nhóm để giải quyết những vấn đề có thật trong đời sống ( authentic), theo sát chương trình học ( curriculum-based) và có phạm vi kiến thức liên môn ( interdisciplinary)
    B. CÁC GIAI ĐOẠN CỦA DẠY HỌC DỰ ÁN

    Giai đoạn 1: Chọn đề tài và xác định mục đích của dự án
    Giáo viên và học sinh cùng đề xuất, xác định đề tài và mục đích dự án, chú ý đến việc liên hệ hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống, chú ý đến hứng thú người học cũng như ý nghĩa xã hội của đề tài.
    Cũng có thể do sinh viên đề xuất.
    Giai đoạn 2: Xác định đề cương, kế hoạch thực hiện
    Cần xác định công việc cần làm, thời gian dự kiến, dự kiến vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công cho mỗi thành viên trong nhóm.
    Giai đoạn 3: Thực hiện dự án, chú ý đến sản phẩm
    Thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành, những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Kiến thức lý thuyết, các phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn. Trong quá trình đó, sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra.
    Giai đoạn 4: Thu thập kết quả và công bố sản phẩm
    Kết quả thực hiện dự án có thể viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, luận văn… và được giới thiệu công bố. Sản phẩm có thể là vật chất được tạo ra hoặc hành động phi vật chất.
    B. CÁC GIAI ĐOẠN CỦA DẠY HỌC DỰ ÁN

    Giai đoạn 5: Đánh giá dự án
    Giảng viên và sinh viên đánh giá quá trình thực hiện kết quả cũng như kinh nghiệm đạt được. Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện các dự án tiếp theo. Kết quả dự án có thể được đánh giá từ bên ngoài.

    Việc phân chia các giai đoạn trên chỉ có tính tương đối. Trong thực tế chúng có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau. Việc tự kiểm tra, điều chỉnh cần được thực hiện trong tất cả giai đoạn của dự án, phù hợp cấu trúc, nhiệm vụ của từng dự án khác nhau.
    B. CÁC GIAI ĐOẠN CỦA DẠY HỌC DỰ ÁN

    Vai trò của học sinh:
    Học sinh quyết định cách tiếp cận vấn đề và các hoạt động cần phải tiến hành để giải quyết vấn đề.
    Chính học sinh là người thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau , rồi tổng hợp( synthesize), phân tích ( analyze) và tích lũy kiến thức từ quá trình làm việc của các em.
    C. PHÂN LOẠI DỰ ÁN
    1. Phân loại theo môn học
    Trọng tâm nội dung nằm trong một môn học hay một số môn học ngoài chuyên môn.
    2. Phân loại theo sự tham gia của người học
    Cá nhân, nhóm học sinh, một lớp học hay một khối lớp.
    3. Phân loại theo sự tham gia của giảng viên
    Dự án dưới sự hướng dẫn của một giảng viên hay sự cộng tác của nhiều giảng viên.
    4. Phân loại theo quỹ thời gian
    - Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học (2 đến 6 giờ).
    - Dự án trung bình: thực hiện trong một số ngày (giới hạn trong một tuần hoặc 40 giờ học).
    - Dự án lớn: thực hiện với quỹ thời gian lớn, có thể kéo dài nhiều tuần (trong đào tạo đại học có thể quy định quỹ thời gian lớn hơn).
    5. Phân loại theo nhiệm vụ
    - Dự án tìm hiểu (khảo sát thực trạng đối tượng).
    - Dự án nghiên cứu (giải quyết vấn đề, giải thích hiện tượng).
    - Dự án kiến tạo (tạo ra sản phẩm vật chất hành động thực tiễn như trưng bày, biểu diễn …).
    C. PHÂN LOẠI DỰ ÁN
    Vai trò của học sinh:
    Bằng cách này mỗi bài học đều thật sự hấp dẫn đối với học sinh vì vấn đề mà họ đang giải quyết là vấn đề có thật trong đời sống, và việc giải quyết vấn đề đòi hỏi những kỹ năng của “người lớn” như sự cộng tác và diễn giải.
    Vai trò của học sinh:
    Cuối cùng, chính HS trình bày kiến thức mới mà họ đã tích lũy thông qua dự án và được đánh giá dựa trên những gì đã thu thập được và tính khúc chiết và hợp lý trong cách thức trình bày của các em.
    Mệt rồi đây
    Vai trò của giáo viên:
    Trong suốt quá trình này, vai trò của GV là hướng dẫn (guide) và tham vấn (advise)
    Chứ không phải là
    ‘‘ cầm tay chỉ việc” cho HS của mình.
    Không thuộc bài về chỗ học lại
    Để rồi kết quả ?
    Một ví dụ Môn GDCD
    Dự án: Giải pháp nào cho tình trạng kẹt xe ở Thành phố Hồ Chí Minh?
    Tiến hành: HS đóng vai các chuyên gia tư vấn của UBND TPHCM thu thập số liệu về tình hình giao thông ở thành phố HCM ( loại phương tiện, lượt xe lưu thông tại các tuyến đường trong và ngòai giờ cao điểm, thói quen sử dụng phương tiện tham gia lưu thông…), so sánh các giải pháp khả thi và đề xuất kết luận.
    Tính đa dạng của nhiệm vụ
    HS có thể đảm nhận các công việc khác nhau và đem lại những sản phẩm khác nhau
    Ví dụ Môn Địa
    Ví dụ Môn Sinh Vật
    Đề tài: Nạn ô nhiễm môi trường
    Dự án: Học sinh sẽ đóng vai trò là những nhà môi trường và nghiên cứu một vấn đề môi trường đang tồn tại trong khu vực sống của các em. Nhóm sẽ lập kế hoạch một bài trình bày (video, PPT, ấn phẩm, ...) để thông báo với mọi người về vấn đề cụ thể đó ( ô nhiễm không khí, nguồn nước, tiếng ồn…) và đề xuất giải pháp.


    Điểm giống nhau của các dự án này là gì?


    Tất cả đều thu hút HS vào những kinh nghiệm sống có ý nghĩa, những vấn đề mà xã hội và cộng đồng đang thật sự quan tâm. Chúng còn cho phép HS chọn lựa phương cách tiến hành để phù hợp với phong cách học ( learning styles), năng lực và khả năng tư duy của từng em.
    Thay lời kết luận
    “… Tất cả công nghệ trong lãnh vực giáo dục sẽ không có giá trị gì nếu giáo viên không biết cách sử dụng chúng có hiệu quả. Máy tính không kỳ diệu, chính người giáo viên mới đem lại sự kỳ diệu…”
    CRAIG BARRETT, Intel CEO
    Trở lại nội dung 1

    Kết thúc
    Chuyên đề.

     
    Gửi ý kiến
    print